Cryptocurrency Prices by Vinathis Finance

Năng lực cạnh tranh của một trường đại học đến từ đâu?

Thứ bảy - 31/10/2026 19:45

Năng lực cạnh tranh của một trường đại học đến từ đâu?

Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam bước vào giai đoạn tái cấu trúc, chuyển đổi số và cạnh tranh ngày càng sâu rộng, các trường đại học địa phương đang đứng trước một cơ hội chiến lược: chuyển hóa lợi thế kinh tế bản địa thành năng lực đào tạo khác biệt, từng bước thu hẹp khoảng cách cạnh tranh với những cơ sở giáo dục hàng đầu.

Năng lực cạnh tranh của một trường đại học không còn được quyết định đơn thuần bởi lịch sử hình thành, quy mô tuyển sinh, số lượng ngành đào tạo hay thứ hạng học thuật. Trong nền kinh tế tri thức, giá trị cốt lõi của giáo dục đại học ngày càng được xác lập bởi khả năng chuyển hóa tri thức thành năng lực nghề nghiệp, năng suất lao động, kết quả nghiên cứu ứng dụng và những đóng góp có thể đo lường đối với phát triển kinh tế, xã hội.

Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận lại vị thế của các trường đại học địa phương trong cấu trúc giáo dục quốc gia. Một trường đại học có thể không sở hữu nguồn lực tài chính lớn, không có lịch sử hàng trăm năm và chưa đạt thứ hạng quốc tế cao, nhưng vẫn có thể xây dựng lợi thế cạnh tranh vượt trội trong những lĩnh vực chuyên biệt nếu biết lựa chọn đúng thị trường đào tạo, phát triển năng lực nghiên cứu ứng dụng và khai thác hiệu quả hệ sinh thái kinh tế ngay tại địa phương.

Về bản chất kinh tế học, giáo dục đại học là một hình thức đầu tư phát triển vốn nhân lực. Người học bỏ ra học phí, thời gian, chi phí sinh hoạt và cả chi phí cơ hội để kỳ vọng nhận lại năng lực chuyên môn, thu nhập tương lai và khả năng phát triển nghề nghiệp. Doanh nghiệp tuyển dụng không chỉ quan tâm đến văn bằng mà ngày càng chú trọng khả năng giải quyết vấn đề, thích ứng công nghệ, tổ chức công việc và tạo ra giá trị kinh tế thực tế. Vì vậy, năng lực cạnh tranh bền vững của một trường đại học phải được đánh giá đồng thời trên ba phương diện: chất lượng học thuật, hiệu quả đầu ra của người học và mức độ đóng góp cho hệ sinh thái kinh tế mà nhà trường phục vụ.

Chính tại điểm giao thoa này, đào tạo khởi nghiệp thực chiến trở thành một cấu phần chiến lược của mô hình đại học hiện đại.

Khởi nghiệp thực chiến không đơn giản là hướng dẫn sinh viên thành lập doanh nghiệp, viết kế hoạch kinh doanh hay tham gia các cuộc thi ý tưởng. Đó là quá trình hình thành năng lực nhận diện nhu cầu thị trường, xác lập vấn đề, thiết kế giải pháp, tổ chức nguồn lực, quản trị tài chính, kiểm chứng mô hình kinh doanh, quản trị rủi ro và chịu trách nhiệm trước kết quả thực hiện. Những năng lực này có giá trị ngay cả khi sinh viên không lựa chọn con đường trở thành doanh nhân.

Một kỹ sư có tư duy khởi nghiệp sẽ không chỉ biết vận hành thiết bị mà còn có khả năng phát hiện điểm nghẽn sản xuất, đề xuất cải tiến công nghệ và lượng hóa hiệu quả đầu tư. Một sinh viên nông nghiệp không chỉ hiểu quy trình canh tác mà còn có thể phân tích giá thành, tổ chức chuỗi cung ứng, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng và phát triển thị trường. Tương tự, một cử nhân kinh tế có tư duy khởi nghiệp sẽ biết xây dựng mô hình dòng tiền, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, kiểm soát rủi ro và kiến tạo giá trị thay vì chỉ thực hiện những nghiệp vụ được giao.

Đó chính là sự chuyển dịch từ tư duy đào tạo người thực hiện công việc sang đào tạo người có năng lực kiến tạo giá trị.

Đặc biệt, định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh việc đổi mới chương trình đào tạo, tích hợp năng lực số, trí tuệ nhân tạo, tinh thần doanh nhân và khởi nghiệp, đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.

Lợi thế cạnh tranh đặc thù của các trường đại học địa phương nằm ở khả năng tiếp cận trực tiếp những bài toán phát triển kinh tế mà thị trường đang cần lời giải. Và khi đặt trong bối cảnh từng vùng kinh tế cụ thể, lợi thế này càng trở nên rõ nét.

Tại khu vực duyên hải miền Trung, tỉnh Quảng Ngãi sau khi hợp nhất với Kon Tum đã hình thành không gian kinh tế kết nối miền núi, cao nguyên với đồng bằng, công nghiệp và biển đảo. Một phía là Khu kinh tế Dung Quất, công nghiệp lọc hóa dầu, cơ khí, logistics và các chuỗi sản xuất công nghiệp; phía còn lại là tiềm năng dược liệu Ngọc Linh, nông lâm nghiệp, du lịch sinh thái Măng Đen và kinh tế cộng đồng.

Đối với Trường Đại học Phạm Văn Đồng, đây là điều kiện để phát triển sâu các chương trình đào tạo công nghệ thông tin, cơ khí, cơ điện tử, quản trị kinh doanh và sư phạm theo hướng ứng dụng, gắn với nhu cầu nhân lực thực tế. Cùng với đó, việc thành lập Phân hiệu Trường Đại học Tài chính – Marketing tại Quảng Ngãi trên cơ sở Trường Đại học Tài chính – Kế toán theo Quyết định số 807/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 mở thêm khả năng kết nối đào tạo tài chính, quản trị, kinh doanh quốc tế và thương mại với hệ sinh thái doanh nghiệp địa phương.

Vấn đề chiến lược không phải mở thêm bao nhiêu ngành học mà là thiết kế được những chương trình liên ngành đủ sức giải quyết vấn đề thực tế. Chẳng hạn, bài toán tối ưu chi phí bảo trì thiết bị công nghiệp tại Dung Quất có thể kết nối sinh viên cơ khí, công nghệ thông tin và quản trị sản xuất. Bài toán thương mại hóa dược liệu Ngọc Linh có thể kết hợp công nghệ sinh học, tiêu chuẩn chất lượng, sở hữu trí tuệ, tài chính đầu tư và phát triển thương hiệu. Đây là những hướng đào tạo, nghiên cứu ứng dụng có cơ sở từ nhu cầu kinh tế địa phương, đồng thời mở ra cơ hội phát triển sản phẩm và doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ.

Tại tỉnh Gia Lai mới, được hình thành từ Gia Lai và Bình Định, Trường Đại học Quy Nhơn có điều kiện tham gia sâu hơn vào cấu trúc kinh tế liên vùng, từ nông nghiệp cao nguyên đến công nghiệp, công nghệ, cảng biển và logistics ven biển. Đáng chú ý, nhà trường đã triển khai định hướng đào tạo nhân lực trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn và an ninh mạng, với mục tiêu đào tạo 7.500 kỹ sư, cử nhân và chuyên gia theo kế hoạch được công bố năm 2025. Đây là một ví dụ cho thấy một trường đại học ngoài hai trung tâm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể lựa chọn những lĩnh vực công nghệ chiến lược để xây dựng vị thế cạnh tranh.

Tại Khánh Hòa, Trường Đại học Nha Trang lại thể hiện hướng chuyên môn hóa gắn với kinh tế biển. Các chương trình đào tạo về khoa học thủy sản, nuôi trồng thủy sản, công nghệ chế biến, an toàn thực phẩm và kinh tế tài nguyên biển tạo nên nền tảng học thuật phù hợp với hệ sinh thái kinh tế duyên hải. Đặc biệt, việc phát triển các chương trình phối hợp với doanh nghiệp như chương trình Minh Phú – NTU trong những ngành liên quan đến thủy sản cho thấy khả năng gắn đào tạo với yêu cầu của chuỗi giá trị sản xuất. Khi doanh nghiệp tham gia xây dựng nội dung đào tạo, cung cấp môi trường thực hành và đánh giá năng lực nghề nghiệp, khoảng cách giữa giảng đường và thị trường lao động có điều kiện được rút ngắn.

Nếu mở rộng sang Tây Nguyên, cấu trúc lợi thế cạnh tranh lại mang những đặc điểm khác biệt.

Tại Đắk Lắk, Trường Đại học Tây Nguyên có cơ sở để phát triển năng lực nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học, thú y, bảo vệ thực vật, công nghệ thực phẩm và quản lý tài nguyên. Tháng 7/2026, việc nhà trường ký kết hợp tác với Viện Bảo vệ thực vật nhằm thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giám sát dịch hại, cảnh báo sớm và phát triển nông nghiệp bền vững là một hướng tiếp cận đáng chú ý.

Nhìn từ góc độ kinh tế, các ngành hàng cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và những cây trồng đặc thù của Tây Nguyên không chỉ đặt ra nhu cầu đào tạo kỹ thuật nông nghiệp mà còn đòi hỏi năng lực giải quyết những bài toán phức hợp về năng suất, truy xuất nguồn gốc, sử dụng tài nguyên nước, chi phí đầu vào, chế biến sâu và quản trị chuỗi cung ứng. Một dự án sinh viên ứng dụng cảm biến để tối ưu tưới tiêu, mô hình trí tuệ nhân tạo dự báo sâu bệnh hay giải pháp tận dụng phụ phẩm cà phê có thể trở thành sản phẩm nghiên cứu ứng dụng và tiến tới khởi nghiệp nếu vượt qua được các bước kiểm chứng kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và nhu cầu thị trường.

Tại Lâm Đồng, Trường Đại học Đà Lạt với các chương trình nông học, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ thực phẩm có lợi thế trong việc nghiên cứu, đào tạo gắn với nông nghiệp công nghệ cao. Trong không gian tỉnh Lâm Đồng mới, bao gồm cả các khu vực Đắk Nông và Bình Thuận trước đây, tiềm năng kết nối nghiên cứu giữa nông nghiệp cao nguyên, chế biến thực phẩm, năng lượng, tài nguyên và kinh tế du lịch càng rộng mở. Điểm mấu chốt là phải xây dựng được chuỗi hoạt động từ nghiên cứu khoa học đến thử nghiệm sản xuất, đánh giá hiệu quả đầu tư và thương mại hóa sản phẩm, thay vì dừng ở việc hoàn thành một đề tài học thuật.

Tại Bắc Trung Bộ, bài toán cạnh tranh đại học có thể được nhìn nhận trực tiếp thông qua nhu cầu nhân lực của các khu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp.

Ở Thanh Hóa, Trường Đại học Hồng Đức có cơ hội gia tăng vai trò đào tạo gắn với Khu kinh tế Nghi Sơn và hệ thống khu công nghiệp trên địa bàn. Theo thông tin công bố tháng 9/2026 về nhu cầu nhân lực được tổng hợp cho khu vực này, giai đoạn 2027–2030 dự kiến cần khoảng 37.310 lao động thuộc nhiều trình độ và nhóm ngành nghề. Trong đó, nhu cầu thuộc nhóm cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác và ô tô, xe máy khoảng 2.900 người; logistics, kho vận, cảng và hậu cần khoảng 2.620 người; điện, điện tử, viễn thông và tự động hóa khoảng 2.300 người. Đây là những số liệu nhu cầu lao động tổng hợp, không phải toàn bộ chỉ tiêu tuyển dụng trình độ đại học, nhưng có giá trị quan trọng để các cơ sở đào tạo xác định nhu cầu kỹ năng và xây dựng danh mục chương trình phù hợp.

Bài toán đặt ra không chỉ là trường đại học có bao nhiêu ngành đào tạo mà là khả năng chuyển hóa dữ liệu nhu cầu nhân lực thành chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và cơ hội việc làm thực tế. Nếu cơ sở đào tạo phối hợp với doanh nghiệp xây dựng các học phần về quản trị bảo trì công nghiệp, tối ưu vận hành logistics, tự động hóa sản xuất hoặc quản lý chuỗi cung ứng thì năng lực cạnh tranh của nhà trường có thể được xác lập trên hiệu quả sử dụng lao động và mức độ đáp ứng nhu cầu sản xuất, thay vì chỉ dựa vào số lượng hồ sơ tuyển sinh.

Tại Nghệ An, Trường Đại học Vinh có lợi thế về đào tạo đa ngành, nghiên cứu khoa học và kết nối với các doanh nghiệp công nghiệp, công nghệ. Tháng 6/2026, nhà trường ký kết hợp tác với doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và sản xuất công nghệ nhằm kết nối đào tạo nhân lực, thực tập, nghiên cứu ứng dụng và tuyển dụng. Đến tháng 9/2026, việc Nghệ An thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo tỉnh tiếp tục mở ra không gian phối hợp giữa cơ sở giáo dục đại học, cơ quan quản lý và doanh nghiệp.

Đây là cơ hội để các trường đại học trên địa bàn không chỉ tham gia cung ứng nhân lực mà còn trở thành đối tác nghiên cứu, tư vấn công nghệ và giải quyết vấn đề phát triển của doanh nghiệp. Đối với Trường Đại học Hà Tĩnh, định hướng kết nối với doanh nghiệp, đào tạo theo nhu cầu trong những lĩnh vực như logistics và thương mại điện tử cũng cho thấy tiềm năng phát triển gắn với Khu kinh tế Vũng Áng và các chuỗi công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ. Tại Quảng Trị sau hợp nhất với Quảng Bình, Trường Đại học Quảng Bình có thể phát huy các lợi thế về đào tạo sư phạm, du lịch, kinh tế biển, công nghệ số và nghiên cứu phục vụ phát triển địa phương. Những ví dụ này cho thấy mỗi trường có thể lựa chọn một phân khúc chuyên môn phù hợp thay vì cạnh tranh dàn trải trên mọi lĩnh vực.
 

KGU01527

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những khu vực thể hiện rõ nhất khả năng chuyển hóa lợi thế tài nguyên bản địa thành năng lực cạnh tranh đại học.

Tại Cần Thơ, Đại học Cần Thơ đã xây dựng được nền tảng nghiên cứu, đào tạo và hợp tác phục vụ phát triển vùng, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh học, môi trường và chuyển đổi số. Theo báo cáo sơ kết sáu tháng đầu năm 2026, nhà trường đang triển khai 999 đề tài, dự án nghiên cứu với tổng kinh phí hơn 309 tỷ đồng, đồng thời ghi nhận 64 dự án tham gia cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp sinh viên. Những con số này phản ánh quy mô hoạt động nghiên cứu và khởi nghiệp, dù hiệu quả kinh tế cuối cùng vẫn phải được đánh giá thông qua kết quả ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa.

Ở tỉnh An Giang mới, với không gian phát triển mở rộng sau khi hợp nhất An Giang và Kiên Giang, các cơ sở đào tạo như Trường Đại học An Giang và Trường Đại học Kiên Giang có cơ hội tiếp cận trực tiếp nhiều chuỗi giá trị đặc thù: sản xuất lúa gạo, thủy sản, chế biến thực phẩm, du lịch biển đảo, kinh tế cửa khẩu và nông nghiệp công nghệ cao.

Đáng chú ý, Trường Đại học An Giang đã đưa công nghệ nông nghiệp số vào danh mục đào tạo năm 2026, bên cạnh những lĩnh vực như công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, khoa học cây trồng và nuôi trồng thủy sản. Đây là sự tương thích cần thiết giữa cấu trúc đào tạo và xu hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng của khu vực nông nghiệp.

Trong khi đó, Trường Đại học Kiên Giang đang cho thấy một hướng tiếp cận đáng quan tâm trong đào tạo khởi nghiệp. Tại Cuộc thi KGU STARTUP lần thứ VII năm 2026, 12 dự án vào vòng chung kết tập trung vào những lĩnh vực như nông nghiệp, chế biến thực phẩm, công nghệ xanh, giáo dục và du lịch. Các ý tưởng tiêu biểu như Mực đen KITCHEN – Sắc vị từ biển, nhang muỗi từ cùi tiêu hay PiperPQ – Nâng tầm tiêu Phú Quốc bằng công nghệ xanh đều cho thấy sinh viên có khả năng phát hiện cơ hội từ nguyên liệu, phụ phẩm và sản phẩm đặc trưng địa phương.

Tuy nhiên, ở góc độ quản trị đầu tư và khởi nghiệp, một dự án đoạt giải chưa đồng nghĩa với một mô hình kinh doanh khả thi. Giá trị thực sự chỉ hình thành khi sản phẩm được kiểm chứng về chất lượng, đáp ứng yêu cầu pháp lý, xác định được khách hàng trả tiền, đạt biên lợi nhuận phù hợp và có khả năng mở rộng sản xuất. Bởi vậy, hiệu quả của đào tạo khởi nghiệp phải được đánh giá cả ở giai đoạn sau cuộc thi, thông qua quá trình cố vấn, thử nghiệm thị trường, tiếp cận nguồn lực và hoàn thiện mô hình thương mại.

Tại tỉnh Vĩnh Long mới, Trường Đại học Trà Vinh là một trường hợp đáng chú ý về nghiên cứu ứng dụng dựa trên nguồn lực nông nghiệp bản địa. Hoạt động nghiên cứu công nghệ nuôi cấy phôi dừa sáp, phát triển kỹ thuật nhân giống dừa bằng nuôi cấy mô và mô hình nuôi tôm công nghệ cao cho thấy cơ hội kết hợp giữa khoa học sự sống, sản xuất nông nghiệp và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng. Khi một nghiên cứu có khả năng nâng cao chất lượng giống, cải thiện hiệu quả sản xuất hoặc giảm rủi ro kỹ thuật cho người nông dân, lợi ích không chỉ thuộc về nhà trường mà còn có thể lan tỏa đến doanh nghiệp và toàn bộ chuỗi giá trị địa phương.

Tương tự, tại Cà Mau sau hợp nhất với Bạc Liêu, Trường Đại học Bạc Liêu có điều kiện phát triển các chương trình đào tạo và nghiên cứu ứng dụng gắn với ngành tôm, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, bảo vệ môi trường và kinh tế biển. Việc nhà trường tăng cường kết nối với doanh nghiệp thủy sản, tham gia các hoạt động quản trị bền vững ngành tôm và phát triển chương trình công nghệ sinh học ứng dụng trong năm 2026 thể hiện hướng tiếp cận phù hợp với cấu trúc kinh tế vùng. Một trường đại học không nhất thiết phải đào tạo mọi ngành đang được thị trường quan tâm, nhưng cần có khả năng đào tạo thật tốt những lĩnh vực mà địa phương có nhu cầu chuyên môn sâu và lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Từ các trường hợp trên, có thể thấy lợi thế cạnh tranh của đại học địa phương không nằm ở quy mô địa lý nhỏ hay lớn, mà ở khả năng chuyên môn hóa, tích hợp nguồn lực và giải quyết những vấn đề kinh tế cụ thể với chi phí hợp lý và hiệu quả cao.

Theo cách tiếp cận quản trị chiến lược, các trường đại học địa phương có thể xây dựng lợi thế khác biệt bằng việc lựa chọn những lĩnh vực mà mình có khả năng tạo ra giá trị vượt trội. Trường gần khu công nghiệp cần phát triển năng lực đào tạo kỹ thuật, vận hành và quản trị sản xuất. Trường nằm trong vùng nông nghiệp trọng điểm cần kết nối công nghệ sinh học, chế biến sâu, quản trị chuỗi cung ứng và thương mại hóa nông sản. Trường tại địa bàn giàu tài nguyên du lịch có thể chuyên sâu về quản trị điểm đến, kinh tế trải nghiệm, công nghiệp văn hóa và du lịch bền vững. Trường ở vùng ven biển cần tăng cường nghiên cứu kinh tế biển, thủy sản, logistics, môi trường và công nghệ phục vụ sản xuất.

Nhưng điều này không có nghĩa là đào tạo đại học phải bị giới hạn bởi nhu cầu địa phương. Ngược lại, năng lực cạnh tranh bền vững đòi hỏi nhà trường kết hợp kiến thức có tính phổ quát, chuẩn nghề nghiệp quốc tế và năng lực số hiện đại với những bài toán ứng dụng đặc thù. Sinh viên có thể học từ thực tiễn địa phương nhưng phải đủ năng lực làm việc tại các thị trường lớn hơn, kể cả thị trường lao động quốc tế.

Xét trên phương diện tài chính giáo dục, việc học tại địa phương còn có thể mang lại lợi thế đáng kể về tổng chi phí đầu tư cho người học. Một chương trình đại học cần được đánh giá không chỉ bằng học phí mà còn bằng chi phí sinh hoạt, lưu trú, đi lại, cơ hội thực tập, khả năng tiếp cận việc làm và thu nhập kỳ vọng sau tốt nghiệp. Nếu hai chương trình có chất lượng tương đương, nhưng một chương trình giúp người học giảm đáng kể tổng chi phí mà vẫn đạt được năng lực nghề nghiệp và cơ hội phát triển phù hợp, thì hiệu quả đầu tư vốn nhân lực của chương trình đó có thể cao hơn.

Tuy nhiên, chi phí thấp không thể thay thế chất lượng đào tạo. Nếu người học thiếu cơ hội tiếp cận công nghệ mới, ngoại ngữ, đội ngũ giảng viên chất lượng, môi trường nghiên cứu hay mạng lưới tuyển dụng đủ rộng, khoản tiết kiệm ban đầu có thể không bù đắp được những hạn chế về phát triển nghề nghiệp trong dài hạn. Bởi vậy, muốn biến việc học đại học tại quê hương thành một lựa chọn chiến lược, các trường phải đồng thời bảo đảm chất lượng học thuật, năng lực thực hành và khả năng kết nối thị trường lao động vượt ra ngoài phạm vi địa phương.

Để thực hiện được điều đó, hệ thống quản trị đại học cũng cần thay đổi từ tư duy quản lý hoạt động sang quản trị theo kết quả đầu ra. Một trường đại học không nên chỉ báo cáo số lượng sinh viên tuyển mới, số hội thảo tổ chức, số doanh nghiệp ký kết hợp tác hay số dự án tham gia cuộc thi. Những chỉ tiêu có giá trị quản trị cao hơn phải bao gồm tỷ lệ sinh viên có việc làm phù hợp với chuyên môn sau 6 đến 12 tháng, mức thu nhập và khả năng thăng tiến của người học, mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng, số dự án nghiên cứu được ứng dụng, doanh thu từ hợp đồng chuyển giao công nghệ và tỷ lệ dự án khởi nghiệp tiếp tục hoạt động sau quá trình ươm tạo.

Các chỉ tiêu này cần được thu thập theo phương pháp thống nhất, kiểm chứng định kỳ và phân tích theo từng ngành đào tạo. Quan trọng hơn, phải phân biệt kết quả có việc làm với chất lượng việc làm, số lượng dự án với tỷ lệ thương mại hóa, số biên bản hợp tác với giá trị hợp tác thực tế. Chỉ khi chuyển được từ đo lường hoạt động sang đo lường hiệu quả, nhà trường mới có đủ dữ liệu để điều chỉnh chiến lược, phân bổ ngân sách và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách thực chất.

Một yêu cầu khác không kém phần quan trọng là xây dựng mô hình liên kết Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp theo hướng có trách nhiệm, có nguồn lực và có kết quả. Chính quyền địa phương có thể tham gia xác định nhu cầu nhân lực, đặt hàng nghiên cứu và hỗ trợ cơ chế phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp cần tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, cung cấp bài toán sản xuất, tổ chức thực tập, đồng tài trợ nghiên cứu và tuyển dụng. Nhà trường chịu trách nhiệm về chất lượng học thuật, năng lực nghiên cứu, đào tạo và quản trị các chương trình ứng dụng.

Trong cấu trúc này, giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là nhà nghiên cứu, chuyên gia tư vấn và người hướng dẫn giải quyết vấn đề. Mentor và chuyên gia doanh nghiệp không chỉ xuất hiện tại những buổi tọa đàm mà cần đồng hành trong quá trình phát triển dự án. Nhà đầu tư không chỉ tham gia với vai trò trao giải hay tài trợ mà có thể hỗ trợ đánh giá tính khả thi tài chính, xây dựng mô hình kinh doanh, quản trị rủi ro và tiếp cận thị trường.

Đặc biệt, các trường cần chuyển hoạt động khởi nghiệp từ phong trào ngoại khóa thành một cấu phần tích hợp trong chương trình đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và phát triển nghề nghiệp. Mỗi sinh viên, tùy ngành học, cần có cơ hội tiếp cận một bài toán thực tế, xây dựng phương án giải quyết, thử nghiệm kết quả và đánh giá tác động. Không phải mọi dự án đều cần thành lập doanh nghiệp, nhưng mọi dự án đều phải giúp người học hình thành năng lực giải quyết vấn đề và chịu trách nhiệm với kết quả chuyên môn.

Ở cấp độ chiến lược phát triển vùng, đây còn là một bài toán kinh tế có ý nghĩa lớn hơn giáo dục. Khi các trường đại học địa phương đào tạo được nguồn nhân lực phù hợp, doanh nghiệp có điều kiện giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo lại. Khi nghiên cứu ứng dụng được chuyển giao, doanh nghiệp có thêm cơ hội cải thiện năng suất và năng lực công nghệ. Khi sinh viên có việc làm tốt và cơ hội phát triển nghề nghiệp ngay tại quê hương, địa phương có thêm khả năng thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.

Về dài hạn, sự tương tác này có thể hình thành vòng tuần hoàn tích cực giữa giáo dục, đổi mới sáng tạo, năng suất lao động, thu nhập và tăng trưởng kinh tế địa phương. Đại học không còn đơn thuần là nơi cung cấp nhân lực cho thị trường mà trở thành một thiết chế kiến tạo năng lực cạnh tranh kinh tế vùng.

Điều cần nhấn mạnh là các trường đại học địa phương không nhất thiết phải cạnh tranh trực diện với những đại học hàng đầu trên mọi tiêu chí. Một cơ sở đào tạo có thể chưa dẫn đầu về công bố quốc tế nhưng vẫn có thể đạt vị thế nổi bật trong một số lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp hoặc giải quyết những bài toán phát triển đặc thù. Đây là cạnh tranh bằng năng lực chuyên môn hóa và giá trị khác biệt, không phải cạnh tranh bằng quy mô hay hình thức.

Tất nhiên, vị thế đó chỉ bền vững khi được đặt trên nền tảng chất lượng giảng viên, chuẩn chương trình đào tạo, kiểm định độc lập, đạo đức học thuật, năng lực nghiên cứu và hệ thống quản trị minh bạch. Không thể lấy tính ứng dụng để thay thế nền tảng khoa học, cũng không thể lấy thành tích khởi nghiệp để thay thế chất lượng giáo dục.

Vì vậy, chiến lược phát triển các trường đại học địa phương trong giai đoạn mới cần được nhìn nhận như một phần của chiến lược phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và năng lực cạnh tranh kinh tế của từng tỉnh, từng vùng. Khi địa phương xem trường đại học là tài sản chiến lược, doanh nghiệp xem nhà trường là đối tác phát triển và nhà trường xem hiệu quả xã hội của người học là một thước đo thành công, một hệ sinh thái giáo dục có giá trị thực chất sẽ dần được hình thành.

Khoảng cách giữa một trường đại học địa phương và một đại học hàng đầu không chỉ được thu hẹp bằng đầu tư cơ sở vật chất hay mở rộng quy mô, mà phải bằng sự khác biệt trong chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu, hiệu quả hợp tác doanh nghiệp và những giá trị thực tế mà người học tạo ra sau khi tốt nghiệp.

Khi đạt được điều đó, lựa chọn học đại học ngay tại quê hương không còn là giải pháp vì hạn chế tài chính hay điều kiện địa lý, mà hoàn toàn có thể trở thành một quyết định đầu tư giáo dục có cơ sở chiến lược, hiệu quả kinh tế và triển vọng nghề nghiệp lâu dài.

Một nền giáo dục đại học mạnh không chỉ tạo ra những người đủ điều kiện tìm kiếm việc làm. Một nền giáo dục đại học có năng lực cạnh tranh thực sự phải kiến tạo được những con người có khả năng phát hiện cơ hội, làm chủ tri thức, giải quyết vấn đề, tạo ra việc làm và đóng góp giá trị bền vững cho xã hội.

Và một trường đại học địa phương chỉ thực sự lớn khi giá trị mà nhà trường kiến tạo vượt ra khỏi giới hạn địa lý của chính mình.

 

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Hữu Thi

Cảm ơn bạn đã đọc tin - đừng quên chia sẻ trên Facebook, Zalo,Tweeter... và gửi cho bạn bè cùng xem nhé ! 
Chú ý: ghi nguồn từ Vinathis Finance - vinathis.com

Mời quý bạn đọc đăng gửi bài viết tại chuyên trang TÀI CHÍNH - DOANH NGHIỆP - CHUYỂN ĐỔI SỐ - email: bbt.finance@vinathis.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn có muốn viết gì về điều này cùng với mọi người trên Facebook ?

Vinathis.com/news - Nguồn tin chiến lược cho doanh nhân và doanh nghiệp

  Nội dung nổi bật tại Vinathis News: Thị trường tài chính và cơ hội đầu tư Cập nhật liên tục diễn biến thị trường chứng khoán, tiền điện tử và các xu hướng tài chính toàn cầu. Tin tức mới nhất về công nghệ tài chính (fintech), giúp bạn nắm bắt cơ hội trong kỷ nguyên...

Thăm dò ý kiến

Khi mua hàng trực tuyến bạn chọn nhà cung cấp như thế nào ?

Thieu.work
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây