Vậy chúng ta nên vui vì có thêm trường được xếp hạng, hay lo vì phần lớn các trường đang mất vị thế cạnh tranh? Theo tôi, điều quan trọng không nằm ở việc tăng hay giảm vài chục bậc, mà là hiểu đúng bản chất của hệ thống đánh giá và nhận diện những năng lực cốt lõi đang quyết định vị thế đại học Việt Nam.
Theo kết quả công bố ngày 3/11/2026, Đại học Quốc gia Hà Nội tiếp tục dẫn đầu Việt Nam, xếp thứ 159 châu Á, giảm một bậc. Đại học Quốc gia TP.HCM đứng thứ 182, giảm 7 bậc. Đại học Duy Tân từ vị trí 165 xuống 210, Đại học Tôn Đức Thắng từ 231 xuống 265.
Ở chiều ngược lại, Đại học Bách khoa Hà Nội tăng 39 bậc, lên vị trí 276; Đại học Ngoại thương tăng 18 bậc, lên 562. Đặc biệt, Đại học Phenikaa cải thiện từ nhóm 951–1.000 lên vị trí 697, trong khi Đại học Thủy lợi tiến từ nhóm 1.001–1.100 lên nhóm 731–740.
Đáng chú ý, Đại học Huế giảm 111 bậc, Đại học Nguyễn Tất Thành giảm 132 bậc và Đại học Giao thông Vận tải từ vị trí 607 xuống nhóm 1.101–1.200.
Những biến động ấy đặt ra câu hỏi: Liệu chất lượng giáo dục của các trường thực sự thay đổi tương ứng với thứ hạng?
Câu trả lời là chưa thể kết luận như vậy.
33 đại học Việt Nam trên bảng xếp hạng châu Á năm 2027:
| TT | Trường | Thứ hạng 2026 | Thứ hạng 2027 |
| 1 | Đại học Quốc gia Hà Nội | 158 | 159 |
| 2 | Đại học Quốc gia TP HCM | 175 | 182 |
| 3 | Đại học Duy Tân | 165 | 210 |
| 4 | Đại học Tôn Đức Thắng | 231 | 265 |
| 5 | Đại học Bách khoa Hà Nội | 315 | 276 |
| 6 | Đại học Công nghệ TP HCM | 287 | 289 |
| 7 | Đại học Văn Lang | 251 | 293 |
| 8 | Đại học Kinh tế TP HCM | 318 | 329 |
| 9 | Đại học Công nghiệp TP HCM | 355 | 380 |
| 10 | Đại học Đà Nẵng | 439 | 457 |
| 11 | Đại học Cần Thơ | 493 | 534 |
| 12 | Đại học Huế | 450 | 561 |
| 13 | Đại học Ngoại thương | 580 | 562 |
| 14 | Đại học Nguyễn Tất Thành | 437 | 569 |
| 15 | Đại học Mở TP HCM | 721-730 | 667 |
| 16 | Đại học Phenikaa | 951-1000 | 697 |
| 17 | Đại học Thủy lợi | 1001-1100 | 731-740 |
| 18 | Đại học Sư phạm Hà Nội | 801-850 | 771-780 |
| 19 | Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM | 901-950 | 801-850 |
| 20 | Đại học Kinh tế Quốc dân | chưa xếp hạng | 801-850 |
| 21 | Đại học Thái Nguyên | chưa xếp hạng | 901-950 |
| 22 | Đại học Nông lâm TP HCM | 951-1000 | 1001-1100 |
| 23 | Học viện Nông nghiệp Việt Nam | 781-790 | 1001-1100 |
| 24 | Học viện Ngân hàng | 1201-1300 | 1101-1200 |
| 25 | Đại học Công nghệ Đồng Nai | chưa xếp hạng | 1101-1200 |
| 26 | Đại học Giao thông Vận tải | 607 | 1101-1200 |
| 27 | Đại học Lạc Hồng | chưa xếp hạng | 1201-1300 |
| 28 | Đại học Thương mại | 1101-1200 | 1201-1300 |
| 29 | Đại học Nam Cần Thơ | chưa xếp hạng | 1401-1500 |
| 30 | Đại học Tài chính - Marketing | chưa xếp hạng | 1401-1500 |
| 31 | Đại học Vinh | 1201-1300 | 1401-1500 |
| 32 | Đại học Thăng Long | chưa xếp hạng | 1501+ |
| 33 | Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vĩnh Long | chưa xếp hạng | 1501+ |
Điều đó cho thấy, một trường đại học có thể tăng quy mô đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất hay cải thiện hoạt động nội bộ nhưng chưa chắc đã tăng hạng nếu mức cải thiện chưa đủ mạnh ở những tiêu chí QS đánh giá.
Đặc biệt, xếp hạng là phép so sánh tương đối, không phải thước đo tuyệt đối về chất lượng. Khi số cơ sở được xếp hạng tăng từ 1.529 lên 1.722, áp lực cạnh tranh cũng thay đổi.
Một minh chứng đáng chú ý là Đại học Quốc gia Hà Nội: dù giảm một bậc, điểm tổng thể được nhà trường công bố lại tăng từ 57,2 lên 61,5. Nghĩa là năng lực theo thang điểm đánh giá đã cải thiện, nhưng vị trí tương đối vẫn giảm.
Với những trường giảm sâu, cần phân tích điểm thành phần qua từng kỳ, đặc biệt ở năng suất nghiên cứu, tác động trích dẫn, uy tín học thuật, đánh giá của nhà tuyển dụng và quốc tế hóa. Khi chưa có dữ liệu đối chiếu cụ thể, không nên quy kết nguyên nhân cho một chỉ tiêu riêng lẻ.
Ở chiều ngược lại, những trường cải thiện mạnh đáng được ghi nhận về kết quả cạnh tranh theo bộ tiêu chí QS. Tuy nhiên, tăng hạng cũng không mặc nhiên chứng minh chất lượng giảng dạy, năng lực nghề nghiệp của sinh viên hay hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế đã tăng tương ứng.
Theo tôi, đây chính là giới hạn cần được nhìn nhận khách quan của các bảng xếp hạng quốc tế.
QS đánh giá tốt những yếu tố quan trọng của một đại học nghiên cứu và hội nhập, nhưng chưa trực tiếp phản ánh đầy đủ khả năng chuyển hóa tri thức thành năng lực thực hành, chất lượng khởi nghiệp, hiệu quả chuyển giao công nghệ hay mức độ giải quyết những bài toán kinh tế – xã hội tại địa phương.
Một trường đại học có thứ hạng chưa cao vẫn có thể đào tạo nguồn nhân lực rất tốt cho một ngành công nghiệp, một vùng kinh tế hoặc một hệ sinh thái doanh nghiệp cụ thể.
Từ góc nhìn chiến lược phát triển giáo dục đại học, tôi cho rằng các trường cần tập trung đồng thời vào ba trụ cột: năng lực học thuật, năng lực tạo ra giá trị thực tiễn và năng lực hội nhập quốc tế.
Đầu tư nghiên cứu phải gắn với chất lượng, tác động khoa học và khả năng thương mại hóa. Đào tạo phải kết nối thực chất với doanh nghiệp, thị trường lao động và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Quốc tế hóa phải đi vào chiều sâu của hợp tác nghiên cứu, trao đổi học thuật và phát triển đội ngũ, thay vì chỉ dừng ở các thỏa thuận hình thức.
Đặc biệt, các trường đại học địa phương không nhất thiết phải chạy đua bằng quy mô hay mô hình của các đại học hàng đầu. Họ hoàn toàn có thể tạo lợi thế cạnh tranh từ những ngành đào tạo đặc thù, nghiên cứu ứng dụng, đào tạo khởi nghiệp thực chiến và khả năng giải quyết các vấn đề phát triển của địa phương.
Một trường đại học mạnh không chỉ là nơi tạo ra tri thức, mà còn phải chứng minh được năng lực biến tri thức thành giá trị kinh tế và xã hội.
Nhìn vào QS châu Á 2027, tôi cho rằng 33 đại diện Việt Nam là thành quả đáng ghi nhận, nhưng việc phần lớn trường tụt hạng cũng là một tín hiệu cần phân tích nghiêm túc.
Các trường không nên xem xếp hạng là cuộc đua truyền thông, mà cần sử dụng dữ liệu xếp hạng như một công cụ quản trị chiến lược, đối sánh năng lực và xác định các ưu tiên đầu tư dài hạn.
Suy cho cùng, thì thứ hạng có thể giúp một trường đại học được thế giới biết đến, nhưng chất lượng người học, giá trị khoa học và những đóng góp thực chất cho nền kinh tế mới là nền tảng tạo nên vị thế bền vững.
Và có lẽ, câu hỏi quan trọng nhất không phải là đại học Việt Nam đứng thứ bao nhiêu trên bảng xếp hạng châu Á, mà là chúng ta đang tạo ra bao nhiêu giá trị tương xứng với nguồn lực xã hội đã đầu tư cho giáo dục đại học.
Tác giả bài viết: Nguyễn Hữu Thi
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
Kính chào quý doanh nghiệp và đối tác, Chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quý vị Vinathis Network - một nền tảng thông tin và kết nối kinh doanh hàng đầu tại Việt Nam. Vinathis Network là sự kết hợp giữa tính chuyên nghiệp trong quản lý thông tin và sự tận tâm trong việc kết nối doanh nghiệp, với...
Ý nghĩa số Chủ đạo 9 trong Thần số học
BIỂU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ÁP DỤNG 01/01/2026: CẤU TRÚC 5 BẬC VÀ MỨC GIẢM TRỪ GIA CẢNH MỚI
Tài sản của Elon Musk hiện đang ở đâu và phân bố ra sao ?
Báo Cáo Phân Tích Thị Trường - Ngành Trà và Cà Phê tại Việt Nam
Báo Cáo Phân Tích Thị Trường - Thị Trường Trà Sữa tại Việt Nam
Các xu hướng công nghệ chủ đạo trong năm 2024 và những năm tới
Vụ án Hoàng Hường: Toàn cảnh sự trỗi dậy và sụp đổ của một "đế chế" kinh doanh online
Báo cáo tổng quan chi tiết về Công ty Cổ phần Kim Long Motor Huế
XEM NGÀY TỐT KHAI TRƯƠNG ĐẦU NĂM BÍNH NGỌ 2026: KHỞI SỰ HANH THÔNG – TÀI LỘC VỮNG BỀN
Ngoại giao địa phương và chiến lược Super-Gap của Hàn Quốc
Đi chùa online: Bắt đúng trào lưu, liệu đã đúng hướng chuyển đổi số?
Thấy gì từ bảng xếp hạng QS châu Á 2027: 33 đại học Việt Nam và câu chuyện năng lực cạnh tranh thực chất?
Năng lực cạnh tranh của một trường đại học đến từ đâu?
Vinfast và vận mệnh vị thế kinh tế quốc gia
Tọa đàm khởi nghiệp sáng tạo tại Đại học Kiên Giang 2026
Trường Đại học Kiên Giang tổng kết công tác khởi nghiệp và tìm ra quán quân KGU Startup 2026
Vinathis Holding đạt thỏa thuận đầu tư vào dự án nước tẩy rửa sinh học ECOZYM tại HUIT Startup 2026